VẬN DỤNG NỘI DUNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN GIÁO DỤC TRONG ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG VÀO: LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP HIỆN NAY

 

VẬN DỤNG NỘI DUNG ĐỔI MỚI TOÀN DIỆN GIÁO DỤC TRONG ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG VÀO:

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP HIỆN NAY

 

Hội nhập là quá trình tất yếu của thế giới, mà các dân tộc muốn phát triển đi lên vươn tới những mục đích của sự phát triển thì không thể nằm ngoài quá trình đó, Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, một vấn đề lớn đặt ra là nguồn nhân lực cho hội nhập chúng ta còn yếu kém về chất lượng đáp nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, bài toán chất lượng nguồn nhân lực hiện đang là thách thức lớn. Thực trạng ấy đặt ra cho công tác đào tạo nguồn nhân lực nhiều đòi hỏi cấp thiết, nhất là những giải pháp căn bản với tầm nhìn xa, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu cao của thị trường lao động phong phú, đa dạng.

1. Quan điểm đổi mới toàn diện về giáo dục của Đảng trong văn kiện Đại hội XII

Trong quá trình lãnh đạo của mình Đảng luôn trăn trở, tìm tòi và đổi mới toàn diện lĩnh vực giáo dục, Đổi Đại hội Đảng XII và định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng không là ngoại lệ trong quá trình đó.

Trong văn kiện trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là mệnh lệnh của trên con đường đi tới thành công.

Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước,  Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.

Vì sao phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực? Các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ chất lượng, hiệu quả giáp dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và các phương thức giáo dục, đào tao; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực chất. Quản lí giáo dục và đào tạo có mặt còn yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tao; phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu bức thiết. Đó vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững. Điều kiện tiên quyết, suy đến cùng là do con người quyết định, trong đó giáo dục, đào tạo, nền học vấn là nhân tố quan trọng nhất. Đảng ta nhất quán khẳng định: “Giáo dục, đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho phát triển”.

Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học... Điều này không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy. Vấn đề là ở chỗ: Trong những năm qua, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng; nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn và thực hiện hiệu quả hơn.

Văn kiện nêu rõ: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Trên cơ sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu, chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất người học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề).

Cùng với đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, đào tạo cần đổi mới công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa, cập nhật tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng. Cần khắc phục lối học tập trung vào một số môn học, một “khuôn” trong một sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu. Ở giai đoạn đầu của đổi mới, nên vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy và học chung cho mọi người, vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu cá nhân. Vì vậy, trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo, bổ trợ phù hợp với phát triển phẩm chất, năng lực riêng của một lớp đối tượng.

Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành. Cùng với đó, cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng.

Quan điểm đáng lưu ý của văn kiện Đại hội lần này nêu lên mà gắn chặt với đề tài mà chúng tôi nghiên cứu được Đảng quán triệt chặt chẽ: Cần gắn chặt giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn nhà trường, viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước nhà.

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay được xem như một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam, làm cho nền học vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững.

Nghiên cứu các nguyên tắc đổi mới toàn diện nền giáo dục, vận dụng những kiến thức cơ bản vào cuộc sống, đề tài chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu cơ hội, thách thức để tìm ra giải pháp bổ sung lý luận trong việc đào tạo nguồn nhân lực thời kỳ hội nhập ở nước ta hiện nay.

2. Cơ hội và thách thức

2.1 Cơ hội

Trong xu thế hội nhập hiện nay nhu cầu nhân lực là rất lớn nhất là nguồn nhân lực có kiến thức, tay nghề thành thạo. Để đào tào chất lượng, tạo đầu ra cho sinh viên, nhiều trường đại học cũng liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đào tạo được nguồn nhân lực đảm bảo yêu cầu xã hội.

Nắm bắt xu thế đó các trường cần có những chiến lược kịp thời nắm bắt đúng xu thế mới, đón đầu cơ hội mở một số chương trình đào tạo liên kết với doanh nghiệp nhằm tăng cường hướng đào tạo thực hành cho người học và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Sinh viên ra trường, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện cam kết của nhà trường sẽ được làm việc trong các doanh nghiệp này.

Khi các em được tham gia chương trình liên kết với các doanh nghiệp, sẽ tự tạo dựng được cho mình thương hiệu cá nhân. Các em sẽ có kỹ năng khi được thực hành tại doanh nghiệp, có vốn ngoại ngữ nhất định… Khi đó các em hoàn toàn có thể tự đi xin việc tại các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Nhìn chung, đây là hướng đi khá mới mẻ với nhiều trường trong giai đoạn hội nhập nhưng cũng đã và đang mở ra những kỳ vọng mới về đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng của Việt Nam. Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ tạo ra nhiều cơ hội trong việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục như học tập, bồi dưỡng, trao đổi nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và người học. Từ đó, sẽ có thêm nhiều nguồn lực đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là mối quan hệ tự nguyện, không ai bắt buộc được. Trong Luật giáo dục, trong các chiến lược về phát triển giáo dục đa phần yêu cầu các doanh nghiệp gắn kết, tham gia hệ thống đào tạo… Vì vậy, các trường phải biết nắm bắt cơ hội để nâng cao chất lượng đào tạo.

Tóm lại ta thấy có những thuận lợi cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối với nhà trường

Nhà trường được tổ chức tuyển dụng tư vấn về việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương trình đào tạo. Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho người học.

Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội  thảo chung. Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời điểm hiện tại và tương lai.

Nhà trường nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú cho người học, từ đó nâng cao uy tín của nhà trường trước những  yêu  cầu của thị trường lao động đa dạng và luôn biến động. Nhà trường tạo được tiếng  vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối liên kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Nhà trường có thể tăng cường tính tự chủ về nguồn tài chính cũng như cơ sở vật chất ở hiện tại và tương lai.

Thứ hai, đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn yên tâm có một đội ngũ nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu. Đồng thời doanh nghiệp ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì  qua thời gian thực tập chính là thời gian sinh viên thể hiện năng lực, doanh nghiệp  đánh giá khả năng, năng lực, phẩm chất của sinh viên. Nói cách khác là doanh nghiệp có thêm quyền và cơ hội lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được bài toán nan giải về nhân lực.

Được phép đánh giá chất lượng đào tạo những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của nhà trường.

Hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất cho nhà trường và tham gia giảng dạy vào  quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư, phát triển bước đầu. Doanh nghiệp có cơ hội hưởng lợi khi chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường được đảm bảo bởi đầu ra quá trình đào tạo của nhà trường là đầu vào của quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thêm cơ hội quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sớm tiếp nhận những thông tin về  khoa  học, công nghệ. doanh nghiệp có thể đặt hàng các đề tài nghiên cứu khoa học có chất lượng và thiết thực từ nhà trường nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.

Thứ  ba,  đối  với  người  học

Sinh viên có cơ hội lựa chọn địa điểm thực tập phù hợp sẽ tạo cho sinh viên  nắm bắt được môi trường thực tế, phát triển được kỹ năng giải quyết những vấn đề phát sinh. Chính bản thân của sinh viên sẽ có được yếu tố linh động, mềm mại,  uyển chuyển hơn trong xã hội. Thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp giúp sinh viên mở rộng mối quan hệ của mình. Các đợt thực tập thực tế giúp họ hiểu rõ hơn  những bài học lý thuyết. Với kinh nghiệm thực tập họ sẽ tự tin, sẵn sàng nhận  công việc được giao sau khi ra trường.

Đợt thực tập cũng là cuộc khảo sát, thử thách họ trong quá trình lập nghiệp. Cho dù đạt được kết quả nhiều hay ít, các đợt thực tập cũng mang lại cho sinh viên nhiều cơ hội khác nhau.

Giúp cho sinh viên có cơ hội tìm  kiếm học bổng và tiếp cận sớm với các tổ chức tuyển dụng tạo cơ hội có việc làm sau khi tốt nghiệp

2.2. Thách thức

Thực trạng mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay chưa có gắn kết chặt chẽ đang gặp nhiều bất cập. Doanh nghiệp chưa được tham gia và đóng góp ý kiến về xây dựng chương trình đào một cách chi tiết, thường xuyên. Do đó kiến thức của sinh viên nhận được sau khi ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng.

Nguyên nhân chính xuất phát từ mặt nhận thức chưa đủ, chưa đúng về nhu cầu gắn kết và hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, chưa có sự đồng điệu trong tư duy, bắt nguồn từ sự thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về lợi ích và thế mạnh của nhau.

Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thực sự là nhu cầu bức thiết. Nhà trường còn thụ động, chưa nhận thức được sự phát triển của nhà trường có phần đóng góp của ở sự hợp tác hiệu quả với doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu nhân lực chất lượng  cao, có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế lại gặp khó khăn, tất cả đều thống nhất cho rằng đây là bài toán nan giải và để giải được bài toán này có nhiều cách khác nhau trong đó có cách tối ưu nhất là gắn kết với doanh nghiệp thì lại bị xem nhẹ hoặc ít quan tâm.

Nhà trường và doanh nghiệp thiếu người lãnh đạo tài năng có tầm nhìn, có khả năng nhìn xa trông rộng. Nhà trường và doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm trong việc hợp tác với nhau.

Thiếu lòng tin và sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân khiến cho mối gắn kết giữa hai bên còn lỏng lẻo, chắp vá, chưa đến nơi đến chốn.

Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định những chính sách quan trọng về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp với đào tạo nhất là đào tạo nghề, trong đó đã có quy định điều khoản ưu tiên miễn thuế cho doanh nghiệp khi tham gia vào công tác đào tạo. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa các quy định này vẫn chưa được ban hành, khiến doanh nghiệp chưa mặn mà. Trong khi, ở nhiều nước, các doanh nghiệp hào hứng tiếp nhận người học đến thực hành, thực tập trong thời gian dài, giúp người học có trải nghiệm thực tế. Nhiều sinh viên đã có thể tạo ra sản phẩm, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí giảng dạy cho nhà trường. Ngược lại, do không gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp khiến cho nhiều sinh viên sau khi ra trường được nhận vào doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại.

3. Giải pháp

Trước những yêu cầu về đổi mới giáo dục toàn diện của Đảng và đòi hỏi đổi mới của nền kinh tế, đào tạo phải trở thành tâm điểm chú ý, có sức hấp dẫn lớn với người học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động do đó cần có những giải pháp cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu trên.

Một là, đổi mới và tăng cường công tác quản lý của nhà nước trong việc xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp

Để khắc phục những khó khăn, bất cập nêu trên cần nhiều giải pháp đồng bộ từ vĩ mô đến vi mô, không chỉ ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mà ở cấp quốc gia, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Trên thực tế Nhà nước đã có chủ trương nhưng chưa đi vào các chính sách cụ thể để phát triển và duy trì mối gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Vì vậy, Nhà nước cần nắm vững tinh thần chỉ đạo của Văn kiện Đại hội XII để thể chế hóa thành các chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp chặt chẽ về đào tạo nguồn nhân lực giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tăng quyền tự chủ cho nhà trường về quy mô đào tạo, hình thức tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo, thu chi nguồn tài chính.

Khuyến khích cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo để tăng động lực phát triển giữa các nhà trường với nhau về chất lượng sản phẩm đào tạo, uy tín cũng như hình ảnh, thương hiệu của nhà trường.Cần có trung tâm dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực có sự phối hợp với các ngành ở địa phương và tham gia của nhà trường cần có cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp và quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về nhu cầu lao động và hỗ trợ trong quá trình đào tạo.

Nhìn chung, đổi mới và tăng cường công tác quản lý nhà nước về xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp chủ yếu phát huy ở 3 mặt: Định hướng, khuyến khích và hỗ trợ.

Hai là, đối với nhà trường

Gắn kết với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo theo quy chuẩn QUN – QA (Tiêu chuẩn hệ thống đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á). Nhà trường cần phải tự mình nâng cao năng lực đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra cho người học cần có sự tham khảo nhu cầu thị trường và doanh nghiệp và theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ sự tham khảo nhu cầu thị trường và doanh nghiệp, nhà trường xây dựng khung chương trình giảng dạy, biên soạn và cải tiến giáo trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu của từng giai đoạn phát triển.

Nhà trường cần thực hiện tốt phương châm đào tạo những gì xã hội cần chứ không đào tạo những gì nhà trường có, thay đổi tư duy “đào tạo lấy thầy làm trung tâm” thành “đào tạo lấy người học làm trung tâm”. Điều này, đòi hỏi nhà trường phải quán triệt để xây dựng chương trình đào tạo khung chuẩn cũng như đội ngũ giáo viên cho phù hợp. Bên cạnh việc đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp thì nhà trường cần phải đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại của chương trình đào tạo, phải đào tạo ra những con người có khả năng học tập suốt đời.

Ngoài ra, từ việc trưng cầu doanh ý nhà trường có thể nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo và mở các ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Kiểm tra chặt chẽ, sâu sát chất lượng của sinh viên, thực hiện phương pháp đánh giá từ bên ngoài (người  sử dụng lao động) kết hợp với đánh giá bên trong (nhà trường).

Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục bằng việc liên kết về tài chính và cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho đội ngũ doanh nhân trực tiếp tham gia giảng dạy. Nguồn tài chính của phần lớn nhà trường hiện nay vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và học phí. Cả hai nguồn vốn này, về cơ bản chỉ đủ cho nhà trường duy trì các hoạt động đào tạo. Do đó, nhà trường muốn có nguồn tài chính dồi dào cần phải thực hiện tốt công tác xã hội hóa dựa vào doanh nghiệp và nhà tài trợ dưới các hình thức: học bổng cho sinh viên học giỏi hoặc sinh viên nghèo vượt khó, cung cấp nguồn nhân lực cho công tác giảng dạy, hợp đồng nghiên cứu khoa học...

Gắn kết việc điều hành nhân sự và tham gia quá trình đào tạo bằng cách ưu  tiên tuyển dụng những giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong các doanh nghiệp, xây dựng tiêu chuẩn đứng lớp đối với giảng viên như căn cứ vào trình độ  chuyên môn, chuyên ngành, kinh nghiệm thực tế… Tùy thuộc học phần mà nhà trường có sự phân công và lựa chọn giảng viên cho phù hợp.

Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và thương mại hóa các kết quả  nghiên cứu. Đây là hình thức hợp tác cao nhất giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tăng cường chặt chẽ hơn nữa về mối quan hệ giữa cựu sinh viên với nhà trường, tạo cơ chế để những cựu sinh viên đang làm việc tại doanh nghiệp liên hệ thường xuyên với nhà trường, có thể tổ chức những buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa lý thuyết với thực tiễn. Đây là cầu nối vững chắc giữa nhà trường và doanh nghiệp, rất hiệu quả, rất thiết thực. Qua sự liên kết này, nhà trường sẽ cải tiến chương trình đào tạo theo từng thời điểm sao cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.

Thứ ba, đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể và lâu dài trong việc phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp bằng nhiều cách thức khác nhau có thể là cử người đi học tại các trường, trung tâm, đi tu nghiệp nước ngoài, mời hoặc tuyển dụng người có trình độ chuyên môn tay nghề cao…nhưng có một cách hữu hiệu nhất là việc gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nhà trường trong việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.

Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo bằng cách góp ý kiến về xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thông qua việc cung cấp thông tin, phản  biện  nội  dung  chương  trình đào tạo qua đó nhà trường có thể chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế.

Doanh nghiệp hỗ trợ tài chính cũng như cơ sở vật chất bằng các hình thức như hỗ trợ học bổng cho sinh viên, ký kết các hợp đồng tư vấn, nghiên cứu khoa học. Mặt khác, doanh nghiệp có thể hỗ trợ tài chính cho nhà trường bằng việc thành lập các công ty, khu công nghệ, khu thực hành, giảng đường, phòng thí nghiệm trang thiết bị cho giảng dạy và học tập.

Doanh nghiệp cử các chuyên viên, chuyên gia, kỹ sư, công nhân lành nghề tham gia trực tiếp giảng dạy hoặc hướng dẫn thực hành tại nhà trường hoặc tại doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần có thiện chí và tạo điều  kiện  tiếp nhận các giảng viên, cán bộ quản lý đến doanh nghiệp học tập, học hỏi kinh nghiệm hoặc trao đổi những vướng mắc giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của thực tế.

Thứ tư, đối với người học

Khi đã chọn trường và ngành học thì cần xác định rõ tầm quan trọng của ngành nghề để có cách tiếp nhận và học tập đúng đắn. Ngoài nội dung học trên lớp người học cần học và tìm hiểu thêm kiến thức  trên  sách  vở,  báo  chí, bạn bè, mạng Internet…tham gia các diễn đàn, thuyết trình, hội thảo về chuyên  ngành giữa nhà trường và doanh nghiệp, tham gia vào các nhóm nghiên cứu khoa học tăng khả năng tư duy, phát hiện và xử lý vấn đề; tham gia thực tập thực tế theo chuyên ngành đào tạo tại các doanh nghiệp nhằm vận dụng kiến thức đã tiếp nhận ở nhà trường vào thực tế doanh nghiệp, trau dồi kinh nghiệm, lòng tự tin, bản lĩnh tìm cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

Mặt khác, người  học phải tạo được tâm lý ổn định, vững vàng và phải có lòng yêu nghề, có mục tiêu, định hướng rõ ràng trong quá trình học tập.

Ngoài ba giải pháp chung cho Nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên thì cũng có những giải pháp chung có tính ràng buộc cho các chủ thể trên như:

Xây dựng mối quan hệ thường xuyên giữa nhà trường với doanh nghiệp liên kết.

Thường xuyên, định kỳ có tiếp xúc tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của doanh nghiệp trong thực hiện liên kết đào tạo để xây dựng chuẩn đầu ra vừa đáp ứng yêu cầu chung của chuẩn vừa có thể đáp ứng các yêu cầu riêng của doanh nghiệp trong liên kết. Thực hiện quy trình, hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp cho cải tiến chương trình đào tạo có liên quan đến nội dung liên kết.

Nâng cao trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi hai bên trong thực hiện liên kết.

Thực hiện nghiêm túc hợp đồng, cam kết trách nhiệm của mỗi bên, điều chỉnh, xử lý kịp thời các bất hợp lý nảy sinh đảm bảo cho mỗi bên thực hiện đúng trách nhiệm, tôn trọng và đảm bảo quyền lợi của các bên như cam kết

Đánh giá kết quả, đúc kết kinh nghiệm trong thực hiện liên kết.

Định kỳ hoặc khi cần thiết cần có đánh giá, đúc kết kinh nghiệm để cải tiến, điều chỉnh, mở rộng phạm vi liên kết.

 Các biện pháp nêu trên hợp thành hệ thống nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các biện pháp có mối quan hệ tương tác nhau, trong đó, biện pháp 1 có vai trò quan trọng hàng đầu, biện pháp 3 là biện pháp trung tâm, động lực của liên kết có vai trò làm cho liên kết tồn tại, phát triển. Các biện pháp 2 và 4 là những biện pháp bổ trợ thức đẩy, bổ sung cho các biện pháp trong hệ thống.

 

------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Ban Văn hóa TT Trung ương (2016): Văn kiện Đại hội XII, Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội.

2. Báo cáo phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2006 - 2010, Bộ kế hoạch và Đầu tư, http://business.gov.vn

3. Ts. Hồ Bá Thâm – Ths. Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011): Toàn cầu hóa hội nhập và phát triển bền vững từ góc nhìn triết học đương đai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Kỷ yếu hội thảo quốc gia, Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, 2003.

5. Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về “Liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học”.

6. Trịnh Thị Hoa Mai, Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, NXB Thế giới, Hà Nội, 2005.

7. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế, Kinh nghiệm trong nước và quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học, NXB Thế giới, Hà Nội, 2005.

 

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP HIỆN NAY

LIÊN KẾT ĐÀO TẠO GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP HIỆN NAY

Hội nhập là quá trình tất yếu của thế giới, mà các dân tộc muốn phát triển đi lên vươn tới những mục đích của sự phát triển thì không thể nằm ngoài quá trình đó, Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế, một vấn đề lớn đặt ra là nguồn nhân lực cho hội nhập chúng ta còn yếu kém về chất lượng đáp nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, bài toán chất lượng nguồn nhân lực hiện đang là thách thức lớn. Thực trạng ấy đặt ra cho công tác đào tạo nguồn nhân lực nhiều đòi hỏi cấp thiết, nhất là những giải pháp căn bản với tầm nhìn xa, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu cao của thị trường lao động phong phú, đa dạng.

1. Quan điểm đổi mới toàn diện về giáo dục của Đảng trong văn kiện Đại hội XII

Trong quá trình lãnh đạo của mình Đảng luôn trăn trở, tìm tòi và đổi mới toàn diện lĩnh vực giáo dục, Đổi Đại hội Đảng XII và định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng không là ngoại lệ trong quá trình đó.

Trong văn kiện trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh sự quan tâm đặc biệt và làm rõ hơn lập trường, quan điểm, tính nhất quán về sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.

Nghị quyết số 29 của Hội nghị Trung ương 8, khóa XI, khẳng định đây không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước, mà còn là mệnh lệnh của trên con đường đi tới thành công.

Trong Văn kiện đại hội XII lần này, kế thừa quan điểm chỉ đạo của nhiệm kỳ trước,  Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách, quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy nghề”.

Vì sao phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực? Các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ chất lượng, hiệu quả giáp dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và các phương thức giáo dục, đào tao; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực chất. Quản lí giáo dục và đào tạo có mặt còn yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất- kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tao; phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu bức thiết. Đó vừa là yêu cầu, vừa là giải pháp giúp chúng ta vượt qua khó khăn, thách thức của thời cuộc và phát triển bền vững. Điều kiện tiên quyết, suy đến cùng là do con người quyết định, trong đó giáo dục, đào tạo, nền học vấn là nhân tố quan trọng nhất. Đảng ta nhất quán khẳng định: “Giáo dục, đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho phát triển”.

Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học... Điều này không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy. Vấn đề là ở chỗ: Trong những năm qua, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng; nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn và thực hiện hiệu quả hơn.

Văn kiện nêu rõ: Đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học. Trên cơ sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu, chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất người học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy nghề).

Cùng với đổi mới chương trình, nội dung giáo dục, đào tạo cần đổi mới công tác biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy học theo hướng đa dạng hóa, cập nhật tri thức mới, đáp ứng yêu cầu của từng bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của từng đối tượng. Cần khắc phục lối học tập trung vào một số môn học, một “khuôn” trong một sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu. Ở giai đoạn đầu của đổi mới, nên vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu dạy và học chung cho mọi người, vừa nghiên cứu, biên soạn các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu riêng cho phù hợp với từng loại đối tượng, đáp ứng nhu cầu phát triển phẩm chất, năng lực, năng khiếu cá nhân. Vì vậy, trong xây dựng cấu trúc chương trình môn học cần chú trọng nghiên cứu, biên soạn bổ sung các sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu bắt buộc và tài liệu tham khảo, bổ trợ phù hợp với phát triển phẩm chất, năng lực riêng của một lớp đối tượng.

Phương pháp dạy và học mới không chỉ làm cho người học phát triển tư duy độc lập, sáng tạo mà còn giúp người thầy thêm tiến bộ, trưởng thành. Cùng với đó, cần đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, công bằng.

Quan điểm đáng lưu ý của văn kiện Đại hội lần này nêu lên mà gắn chặt với đề tài mà chúng tôi nghiên cứu được Đảng quán triệt chặt chẽ: Cần gắn chặt giáo dục và đào tạo với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với sản xuất, kinh doanh; gắn nhà trường, viện nghiên cứu với các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp; gắn lý luận với thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những phương cách tốt nhất, hiệu quả nhất để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nước nhà.

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay được xem như một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, hiệu ứng của nó sẽ làm biến đổi tích cực nhiều mặt của đời sống xã hội Việt Nam, làm cho nền học vấn nước nhà hưng thịnh, đất nước phát triển bền vững.

Nghiên cứu các nguyên tắc đổi mới toàn diện nền giáo dục, vận dụng những kiến thức cơ bản vào cuộc sống, đề tài chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu cơ hội, thách thức để tìm ra giải pháp bổ sung lý luận trong việc đào tạo nguồn nhân lực thời kỳ hội nhập ở nước ta hiện nay.

2. Cơ hội và thách thức

2.1 Cơ hội

Trong xu thế hội nhập hiện nay nhu cầu nhân lực là rất lớn nhất là nguồn nhân lực có kiến thức, tay nghề thành thạo. Để đào tào chất lượng, tạo đầu ra cho sinh viên, nhiều trường đại học cũng liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước để đào tạo được nguồn nhân lực đảm bảo yêu cầu xã hội.

Nắm bắt xu thế đó các trường cần có những chiến lược kịp thời nắm bắt đúng xu thế mới, đón đầu cơ hội mở một số chương trình đào tạo liên kết với doanh nghiệp nhằm tăng cường hướng đào tạo thực hành cho người học và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Sinh viên ra trường, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện cam kết của nhà trường sẽ được làm việc trong các doanh nghiệp này.

Khi các em được tham gia chương trình liên kết với các doanh nghiệp, sẽ tự tạo dựng được cho mình thương hiệu cá nhân. Các em sẽ có kỹ năng khi được thực hành tại doanh nghiệp, có vốn ngoại ngữ nhất định… Khi đó các em hoàn toàn có thể tự đi xin việc tại các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Nhìn chung, đây là hướng đi khá mới mẻ với nhiều trường trong giai đoạn hội nhập nhưng cũng đã và đang mở ra những kỳ vọng mới về đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng của Việt Nam. Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ tạo ra nhiều cơ hội trong việc hợp tác giữa các cơ sở giáo dục như học tập, bồi dưỡng, trao đổi nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và người học. Từ đó, sẽ có thêm nhiều nguồn lực đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục.

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là mối quan hệ tự nguyện, không ai bắt buộc được. Trong Luật giáo dục, trong các chiến lược về phát triển giáo dục đa phần yêu cầu các doanh nghiệp gắn kết, tham gia hệ thống đào tạo… Vì vậy, các trường phải biết nắm bắt cơ hội để nâng cao chất lượng đào tạo.

Tóm lại ta thấy có những thuận lợi cơ bản như sau:

Thứ nhất, đối với nhà trường

Nhà trường được tổ chức tuyển dụng tư vấn về việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương trình đào tạo. Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho người học.

Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội  thảo chung. Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời điểm hiện tại và tương lai.

Nhà trường nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú cho người học, từ đó nâng cao uy tín của nhà trường trước những  yêu  cầu của thị trường lao động đa dạng và luôn biến động. Nhà trường tạo được tiếng  vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối liên kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Nhà trường có thể tăng cường tính tự chủ về nguồn tài chính cũng như cơ sở vật chất ở hiện tại và tương lai.

Thứ hai, đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn yên tâm có một đội ngũ nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu. Đồng thời doanh nghiệp ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì  qua thời gian thực tập chính là thời gian sinh viên thể hiện năng lực, doanh nghiệp  đánh giá khả năng, năng lực, phẩm chất của sinh viên. Nói cách khác là doanh nghiệp có thêm quyền và cơ hội lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được bài toán nan giải về nhân lực.

Được phép đánh giá chất lượng đào tạo những mặt mạnh, khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của nhà trường.

Hỗ trợ tài chính, cơ sở vật chất cho nhà trường và tham gia giảng dạy vào  quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư, phát triển bước đầu. Doanh nghiệp có cơ hội hưởng lợi khi chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường được đảm bảo bởi đầu ra quá trình đào tạo của nhà trường là đầu vào của quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động của doanh nghiệp. Từ đó doanh nghiệp có thêm cơ hội quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sớm tiếp nhận những thông tin về  khoa  học, công nghệ. doanh nghiệp có thể đặt hàng các đề tài nghiên cứu khoa học có chất lượng và thiết thực từ nhà trường nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.

Thứ  ba,  đối  với  người  học

Sinh viên có cơ hội lựa chọn địa điểm thực tập phù hợp sẽ tạo cho sinh viên  nắm bắt được môi trường thực tế, phát triển được kỹ năng giải quyết những vấn đề phát sinh. Chính bản thân của sinh viên sẽ có được yếu tố linh động, mềm mại,  uyển chuyển hơn trong xã hội. Thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp giúp sinh viên mở rộng mối quan hệ của mình. Các đợt thực tập thực tế giúp họ hiểu rõ hơn  những bài học lý thuyết. Với kinh nghiệm thực tập họ sẽ tự tin, sẵn sàng nhận  công việc được giao sau khi ra trường.

Đợt thực tập cũng là cuộc khảo sát, thử thách họ trong quá trình lập nghiệp. Cho dù đạt được kết quả nhiều hay ít, các đợt thực tập cũng mang lại cho sinh viên nhiều cơ hội khác nhau.

Giúp cho sinh viên có cơ hội tìm  kiếm học bổng và tiếp cận sớm với các tổ chức tuyển dụng tạo cơ hội có việc làm sau khi tốt nghiệp

2.2. Thách thức

Thực trạng mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay chưa có gắn kết chặt chẽ đang gặp nhiều bất cập. Doanh nghiệp chưa được tham gia và đóng góp ý kiến về xây dựng chương trình đào một cách chi tiết, thường xuyên. Do đó kiến thức của sinh viên nhận được sau khi ra trường chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng.

Nguyên nhân chính xuất phát từ mặt nhận thức chưa đủ, chưa đúng về nhu cầu gắn kết và hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, chưa có sự đồng điệu trong tư duy, bắt nguồn từ sự thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về lợi ích và thế mạnh của nhau.

Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thực sự là nhu cầu bức thiết. Nhà trường còn thụ động, chưa nhận thức được sự phát triển của nhà trường có phần đóng góp của ở sự hợp tác hiệu quả với doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu nhân lực chất lượng  cao, có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế lại gặp khó khăn, tất cả đều thống nhất cho rằng đây là bài toán nan giải và để giải được bài toán này có nhiều cách khác nhau trong đó có cách tối ưu nhất là gắn kết với doanh nghiệp thì lại bị xem nhẹ hoặc ít quan tâm.

Nhà trường và doanh nghiệp thiếu người lãnh đạo tài năng có tầm nhìn, có khả năng nhìn xa trông rộng. Nhà trường và doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm trong việc hợp tác với nhau.

Thiếu lòng tin và sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân khiến cho mối gắn kết giữa hai bên còn lỏng lẻo, chắp vá, chưa đến nơi đến chốn.

Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định những chính sách quan trọng về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp với đào tạo nhất là đào tạo nghề, trong đó đã có quy định điều khoản ưu tiên miễn thuế cho doanh nghiệp khi tham gia vào công tác đào tạo. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn để cụ thể hóa các quy định này vẫn chưa được ban hành, khiến doanh nghiệp chưa mặn mà. Trong khi, ở nhiều nước, các doanh nghiệp hào hứng tiếp nhận người học đến thực hành, thực tập trong thời gian dài, giúp người học có trải nghiệm thực tế. Nhiều sinh viên đã có thể tạo ra sản phẩm, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, tiết kiệm được chi phí giảng dạy cho nhà trường. Ngược lại, do không gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp khiến cho nhiều sinh viên sau khi ra trường được nhận vào doanh nghiệp vẫn phải đào tạo lại.

3. Giải pháp

Trước những yêu cầu về đổi mới giáo dục toàn diện của Đảng và đòi hỏi đổi mới của nền kinh tế, đào tạo phải trở thành tâm điểm chú ý, có sức hấp dẫn lớn với người học, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động do đó cần có những giải pháp cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu trên.

Một là, đổi mới và tăng cường công tác quản lý của nhà nước trong việc xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp

Để khắc phục những khó khăn, bất cập nêu trên cần nhiều giải pháp đồng bộ từ vĩ mô đến vi mô, không chỉ ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp mà ở cấp quốc gia, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Trên thực tế Nhà nước đã có chủ trương nhưng chưa đi vào các chính sách cụ thể để phát triển và duy trì mối gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Vì vậy, Nhà nước cần nắm vững tinh thần chỉ đạo của Văn kiện Đại hội XII để thể chế hóa thành các chính sách, cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho sự phối hợp chặt chẽ về đào tạo nguồn nhân lực giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tăng quyền tự chủ cho nhà trường về quy mô đào tạo, hình thức tuyển sinh, xây dựng chương trình đào tạo, thu chi nguồn tài chính.

Khuyến khích cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo để tăng động lực phát triển giữa các nhà trường với nhau về chất lượng sản phẩm đào tạo, uy tín cũng như hình ảnh, thương hiệu của nhà trường.Cần có trung tâm dự báo nhu cầu đào tạo nhân lực có sự phối hợp với các ngành ở địa phương và tham gia của nhà trường cần có cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp và quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin về nhu cầu lao động và hỗ trợ trong quá trình đào tạo.

Nhìn chung, đổi mới và tăng cường công tác quản lý nhà nước về xây dựng mối gắn kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp chủ yếu phát huy ở 3 mặt: Định hướng, khuyến khích và hỗ trợ.

Hai là, đối với nhà trường

Gắn kết với doanh nghiệp trong việc xây dựng chương trình đào tạo theo quy chuẩn QUN – QA (Tiêu chuẩn hệ thống đảm bảo chất lượng của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á). Nhà trường cần phải tự mình nâng cao năng lực đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra cho người học cần có sự tham khảo nhu cầu thị trường và doanh nghiệp và theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ sự tham khảo nhu cầu thị trường và doanh nghiệp, nhà trường xây dựng khung chương trình giảng dạy, biên soạn và cải tiến giáo trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu của từng giai đoạn phát triển.

Nhà trường cần thực hiện tốt phương châm đào tạo những gì xã hội cần chứ không đào tạo những gì nhà trường có, thay đổi tư duy “đào tạo lấy thầy làm trung tâm” thành “đào tạo lấy người học làm trung tâm”. Điều này, đòi hỏi nhà trường phải quán triệt để xây dựng chương trình đào tạo khung chuẩn cũng như đội ngũ giáo viên cho phù hợp. Bên cạnh việc đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp thì nhà trường cần phải đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại của chương trình đào tạo, phải đào tạo ra những con người có khả năng học tập suốt đời.

Ngoài ra, từ việc trưng cầu doanh ý nhà trường có thể nghiên cứu xây dựng chương trình đào tạo và mở các ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Kiểm tra chặt chẽ, sâu sát chất lượng của sinh viên, thực hiện phương pháp đánh giá từ bên ngoài (người  sử dụng lao động) kết hợp với đánh giá bên trong (nhà trường).

Thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục bằng việc liên kết về tài chính và cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho đội ngũ doanh nhân trực tiếp tham gia giảng dạy. Nguồn tài chính của phần lớn nhà trường hiện nay vẫn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và học phí. Cả hai nguồn vốn này, về cơ bản chỉ đủ cho nhà trường duy trì các hoạt động đào tạo. Do đó, nhà trường muốn có nguồn tài chính dồi dào cần phải thực hiện tốt công tác xã hội hóa dựa vào doanh nghiệp và nhà tài trợ dưới các hình thức: học bổng cho sinh viên học giỏi hoặc sinh viên nghèo vượt khó, cung cấp nguồn nhân lực cho công tác giảng dạy, hợp đồng nghiên cứu khoa học...

Gắn kết việc điều hành nhân sự và tham gia quá trình đào tạo bằng cách ưu  tiên tuyển dụng những giảng viên có kinh nghiệm làm việc trong các doanh nghiệp, xây dựng tiêu chuẩn đứng lớp đối với giảng viên như căn cứ vào trình độ  chuyên môn, chuyên ngành, kinh nghiệm thực tế… Tùy thuộc học phần mà nhà trường có sự phân công và lựa chọn giảng viên cho phù hợp.

Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học và thương mại hóa các kết quả  nghiên cứu. Đây là hình thức hợp tác cao nhất giữa nhà trường và doanh nghiệp. Tăng cường chặt chẽ hơn nữa về mối quan hệ giữa cựu sinh viên với nhà trường, tạo cơ chế để những cựu sinh viên đang làm việc tại doanh nghiệp liên hệ thường xuyên với nhà trường, có thể tổ chức những buổi hội thảo trao đổi kinh nghiệm giữa lý thuyết với thực tiễn. Đây là cầu nối vững chắc giữa nhà trường và doanh nghiệp, rất hiệu quả, rất thiết thực. Qua sự liên kết này, nhà trường sẽ cải tiến chương trình đào tạo theo từng thời điểm sao cho phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp.

Thứ ba, đối với doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần có kế hoạch cụ thể và lâu dài trong việc phát triển nguồn nhân lực cho doanh nghiệp bằng nhiều cách thức khác nhau có thể là cử người đi học tại các trường, trung tâm, đi tu nghiệp nước ngoài, mời hoặc tuyển dụng người có trình độ chuyên môn tay nghề cao…nhưng có một cách hữu hiệu nhất là việc gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với nhà trường trong việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực.

Doanh nghiệp cùng tham gia đào tạo bằng cách góp ý kiến về xây dựng, đánh giá và cải tiến chương trình đào tạo thông qua việc cung cấp thông tin, phản  biện  nội  dung  chương  trình đào tạo qua đó nhà trường có thể chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế.

Doanh nghiệp hỗ trợ tài chính cũng như cơ sở vật chất bằng các hình thức như hỗ trợ học bổng cho sinh viên, ký kết các hợp đồng tư vấn, nghiên cứu khoa học. Mặt khác, doanh nghiệp có thể hỗ trợ tài chính cho nhà trường bằng việc thành lập các công ty, khu công nghệ, khu thực hành, giảng đường, phòng thí nghiệm trang thiết bị cho giảng dạy và học tập.

Doanh nghiệp cử các chuyên viên, chuyên gia, kỹ sư, công nhân lành nghề tham gia trực tiếp giảng dạy hoặc hướng dẫn thực hành tại nhà trường hoặc tại doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần có thiện chí và tạo điều  kiện  tiếp nhận các giảng viên, cán bộ quản lý đến doanh nghiệp học tập, học hỏi kinh nghiệm hoặc trao đổi những vướng mắc giữa chương trình đào tạo và yêu cầu của thực tế.

Thứ tư, đối với người học

Khi đã chọn trường và ngành học thì cần xác định rõ tầm quan trọng của ngành nghề để có cách tiếp nhận và học tập đúng đắn. Ngoài nội dung học trên lớp người học cần học và tìm hiểu thêm kiến thức  trên  sách  vở,  báo  chí, bạn bè, mạng Internet…tham gia các diễn đàn, thuyết trình, hội thảo về chuyên  ngành giữa nhà trường và doanh nghiệp, tham gia vào các nhóm nghiên cứu khoa học tăng khả năng tư duy, phát hiện và xử lý vấn đề; tham gia thực tập thực tế theo chuyên ngành đào tạo tại các doanh nghiệp nhằm vận dụng kiến thức đã tiếp nhận ở nhà trường vào thực tế doanh nghiệp, trau dồi kinh nghiệm, lòng tự tin, bản lĩnh tìm cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

Mặt khác, người  học phải tạo được tâm lý ổn định, vững vàng và phải có lòng yêu nghề, có mục tiêu, định hướng rõ ràng trong quá trình học tập.

Ngoài ba giải pháp chung cho Nhà trường, doanh nghiệp và sinh viên thì cũng có những giải pháp chung có tính ràng buộc cho các chủ thể trên như:

Xây dựng mối quan hệ thường xuyên giữa nhà trường với doanh nghiệp liên kết.

Thường xuyên, định kỳ có tiếp xúc tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của doanh nghiệp trong thực hiện liên kết đào tạo để xây dựng chuẩn đầu ra vừa đáp ứng yêu cầu chung của chuẩn vừa có thể đáp ứng các yêu cầu riêng của doanh nghiệp trong liên kết. Thực hiện quy trình, hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp cho cải tiến chương trình đào tạo có liên quan đến nội dung liên kết.

Nâng cao trách nhiệm, đảm bảo quyền lợi hai bên trong thực hiện liên kết.

Thực hiện nghiêm túc hợp đồng, cam kết trách nhiệm của mỗi bên, điều chỉnh, xử lý kịp thời các bất hợp lý nảy sinh đảm bảo cho mỗi bên thực hiện đúng trách nhiệm, tôn trọng và đảm bảo quyền lợi của các bên như cam kết

Đánh giá kết quả, đúc kết kinh nghiệm trong thực hiện liên kết.

Định kỳ hoặc khi cần thiết cần có đánh giá, đúc kết kinh nghiệm để cải tiến, điều chỉnh, mở rộng phạm vi liên kết.

 Các biện pháp nêu trên hợp thành hệ thống nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp. Các biện pháp có mối quan hệ tương tác nhau, trong đó, biện pháp 1 có vai trò quan trọng hàng đầu, biện pháp 3 là biện pháp trung tâm, động lực của liên kết có vai trò làm cho liên kết tồn tại, phát triển. Các biện pháp 2 và 4 là những biện pháp bổ trợ thức đẩy, bổ sung cho các biện pháp trong hệ thống.

 

------------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Ban Văn hóa TT Trung ương (2016): Văn kiện Đại hội XII, Nxb Chính trị Quốc gia – Hà Nội.

2. Báo cáo phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 2006 - 2010, Bộ kế hoạch và Đầu tư, http://business.gov.vn

3. Ts. Hồ Bá Thâm – Ths. Nguyễn Thị Hồng Diễm (2011): Toàn cầu hóa hội nhập và phát triển bền vững từ góc nhìn triết học đương đai, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Kỷ yếu hội thảo quốc gia, Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, 2003.

5. Quyết định số 42/2008/QĐ-BGDĐT ngày 28/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về “Liên kết đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học”.

6. Trịnh Thị Hoa Mai, Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, NXB Thế giới, Hà Nội, 2005.

7. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế, Kinh nghiệm trong nước và quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học, NXB Thế giới, Hà Nội, 2005.